Các dòng men độc sắc trên đồ sứ quan diêu Cảnh Đức Trấn thời Minh, Thanh

Nguồn:

1. Lâm Liêm Dĩnh 林廉穎 – Minh đại Cảnh Đức trấn đơn sắc dứu quan diêu từ khí chi nghiên cứu 明代景德鎮單色釉官窯瓷器之研究. Đại học sư phạm quốc gia Đài Loan

2. Dữ liệu ảnh online, Bảo tàng Cố cung quốc gia Đài Loan (NPM)

http://taiwanacademy.tw/

http://digitalarchives.tw/

3. Dữ liệu ảnh online, Bảo tàng quốc gia Tokyo Nhật Bản (TNM)

4. Những nguồn khác (xem trong bài)

***

Các dòng men độc sắc trên đồ sứ quan diêu Cảnh Đức Trấn thời Minh, Thanh

Ghi chép vắn tắt này chỉ điểm qua cách định danh một số kiểu men (dứu 釉, e. glaze) đơn sắc trên đồ gốm sứ thời Minh, Thanh cùng hình ảnh minh họa. Hình ảnh và nội dung sẽ còn được điều chỉnh theo việc cập nhật tư liệu.

1. 白釉 – bạch dứu

Bạch dứu từ khí, hay còn gọi bạch từ, có sắc men trắng hay ngà. Không nên nhầm với bạch định – vốn chỉ bạch từ của Định diêu (thời Tống).

^ Chậu thời Minh Hoằng Trị, men điềm bạch – 明 弘治 甜白雲龍盤

^ Bình thời Thanh Ung Chính – 清 雍正 白釉直口匙箸瓶

^ Bình thời Thanh Càn Long – 清 乾隆 白釉雕花蓮花玉壺春瓶

2. 青白釉 – thanh bạch dứu

Men thanh bạch (e. qing bai), còn gọi là men ảnh thanh 影青 (e. ying qing) là dòng men trắng phớt xanh phổ biến từ thời Tống, Nguyên cho tới thời Minh. Lưu ý rằng rất nhiều lò gốm sứ Trung Quốc sử dụng kiểu men này.

^ Bát lễ thời Thanh Càn Long – 清 乾隆 影青瓷禮器簋

3. 紅釉 – hồng dứu

Men đỏ mà người chơi hay gọi là men thúy hồng 翠紅, tế hồng 祭紅, tễ hồng 霽紅.

^ Đĩa thời Minh Tuyên Đức men tế hồng – 明 宣德窯 祭紅白裡暗花雙龍紋盤

^ Bình quan âm thời Thanh Khang Hi, men bảo thạch hồng – 清 康熙 寶石紅觀音瓶

^ Chén đựng nước thời Khang Hi, men giang đậu hồng – 豇豆红釉暗花团螭纹水盂 (nguồn: VCM)

Tạo hình này gọi là vu 盂, nhưng có lúc được gọi là tôn 尊, nang…

^ Chén thời Thanh Khang Hi – 清 康熙 紅釉暗花龍鳳太白尊

^ Bình thời Thanh Càn Long, men tễ hồng – 霽紅瓷撇口瓶

Có thể tạm xếp chung vào dòng này các màu men dương can tử 羊肝紫, trư can sắc 豬肝色…

^ Nang thời Thanh Khang Hi, men trư can sắc – 清 康熙 豬肝色花囊

^ Bình thời Thanh hiệu đề Ung Chính, màu dương can tử – 清 雍正款 羊肝紫瓷花瓶

4. 藍釉 – lam dứu

Men màu chàm, màu xanh cobalt, người chơi hay gọi là thúy lam 翠藍 – màu xanh biếc, tễ thanh 霽青, tễ lam 霽藍.

^ Bình hồ lô thời Minh Tuyên Đức – 明 宣德 霽青胡蘆瓶

^ Đĩa thời Minh hiệu đề Gia Tĩnh – 明 嘉靖款霽藍小瓷碟

^ Chậu thời Thanh Càn Long – 清 乾隆 霽青獸面雙環洗

5. 灑藍釉 – sái lam dứu

Người chơi hay gọi là men lam phun

6. 天藍釉 – thiên lam dứu

^ Chậu rửa bút thời Thanh Khang Hi – 清 康熙 天藍釉筆洗

7. 回青釉 – Hồi thanh dứu

Người chơi hay gọi là men chàm Hồi, chỉ loại men màu xanh cobalt có nguồn gốc từ Arab.

8. 青釉 – thanh dứu

Thanh có nghĩa là màu xanh. Từ ”thanh dứu” đôi khi chỉ nhiều màu men, từ phớt xanh sang đến phớt lục, phớt vàng tương đương như dòng men ngọc thời Tống, Nguyên.

^ Chậu rửa bút thời Thanh Khang Hi – 清 康熙 青釉筆洗

^ Bình thời Thanh Ung Chính – 清 雍正 青瓷貫耳穿帶蓋瓶

9. 綠釉 – lục dứu

Men màu xanh lá.

10. 孔雀綠釉 – khổng tước lục dứu

Men màu xanh lông chim công

^ Bình (dạng túi mật) thời Thanh – 清 孔雀綠釉膽瓶

^ Bình thời Thanh

11. 黃釉 – hoàng dứu

Men màu vàng.

^ Chén thời Minh Tuyên Đức – 明 宣德 黃釉仰鍾式碗

^ Hũ có nắp thời Thanh Khang Hi – 清 康熙 黃瓷蓋罐

12. 醬釉 – tương dứu

Men màu nâu nhạt, người chơi hay gọi là màu da lươn.

13. 黑釉 – hắc dứu

Men màu đen

14. 茄皮紫釉 – gia bì tử dứu

Men màu tím vỏ cà.

Advertisements

Tàu cổ Bình Châu

Tháng 9 năm ngoái, báo chí bắt đầu thông tin về con tàu cổ bị đắm ở ven biển xã Bình Châu, Bình Sơn, Quảng Ngãi. Từ lúc phát hiện, người dân địa phương đã tranh nhau lặn vớt cổ vật, đa phần là gốm sứ cổ Trung Quốc, thời Minh. Các món được nói có giá sang tay hàng chục triệu đồng là những đĩa men ngọc (thanh từ) gần như chắc chắn có xuất xứ từ lò Long Tuyền vùng Xử Châu. Do bị khai thác không đúng qui cách, rất nhiều hiện vật trở thành những mảnh vỡ nát. Chính quyền cũng nhanh chóng vào cuộc để xác lập quyền quản lý nhà nước  về di sản văn hóa và các nhà khoa học bắt đấu tiến hành khảo sát nghiên cứu. Đã từng xảy ra xô xát giữa người dân và lực lượng gìn giữ trật tự. Tỉnh Quảng Ngãi vừa công bố kế hoạch trục vớt với chi phí ước tính 40 tỷ đồng, trong khi đánh giá về giá trị cổ vật là trên 50 tỷ đồng. Cả hai con số này không rõ được căn cứ trên cơ sở nào. Còn các nhà khoa học ban đầu đánh giá niên đại cổ vật gốm sứ vào thời Minh, về sau lại đẩy lên khả năng thời Tống – Nguyên hay thế kỷ 14, với giải thích sơ bộ là do so sánh kiểu dáng, men và họa tiết trên gốm sứ cùng những phỏng đoán liên quan đến các đồng tiền được cho là từ con tàu này.

Tuy nhiên, nếu xem xét kiểu thức của một số món gốm sứ được thông tin trên mặt báo, thì có sự tương đồng với những hiện vật được nhận định niên đại lùi về thế kỷ 15-16.

Ba lư hương từ tàu đắm, được cho là thời Nguyên:

Hiện vật so sánh:

Longtuyen01-c15 16

^ Lư hương Long Tuyền diêu tk 15-16, Bảo tàng Cố cung Đài Loan (NPM)

Longtuyen-Yuan

^ Lư hương Long Tuyền diêu thời Nguyên, Bảo tàng Tokyo Nhật Bản (TNM)

Longtuyen05-c15 16

^ Bát Long Tuyền diêu tk 15-16, Bảo tàng NPM

Các mảnh đĩa từ tàu đắm:

20-9,_Co_vat_7

muagio7.jpg;pveaf8b0725e0987c4

Hiện vật so sánh:

Longtuyen04-c15 16

^ Đĩa Long Tuyền diêu tk 15-16, Bảo tàng NPM

Longtuyen02-c15 16

^ Đĩa Long Tuyền diêu tk 15-16, Bảo tàng NPM

Yuan-02

^ Đĩa Long Tuyền diêu thời Nguyên, Bảo tàng NPM

Yuan-03

^ Đĩa Long Tuyền diêu thời Nguyên, Bảo tàng NPM

Thời Nguyên có thể xem như giai đoạn cực thịnh của gốm Long Tuyền, Long Tuyền diêu được xuất khẩu rộng khắp. Sang đến thời Minh, đồ sứ men thanh hoa và các loại men màu từ Cảnh Đức Trấn diêu đã dần chiếm lĩnh thị trường, do đó gốm Long Tuyền diêu không còn địa vị như xưa, kỹ thuật chế tác cũng giản lược. Những dòng có lẽ dùng cho giới bình dân thậm chí còn tráng men hở lòng, để đơn giản khi nung (không cần con kê hay làm bao nung). Việc xuất lộ nhiều những hiện vật dạng này ở khu vực tàu đắm có thể phù hợp với giai đoạn bắt đầu thoái trào của lò Long Tuyền.

Hy vọng quá trình trục vớt cổ vật và tàu đắm sẽ sớm đưa đến kết luận chính xác về niên đại cùng nguồn gốc con tàu cũng như các cổ vật trên đó, cho phép hình dung về quá trình giao thương giữa các quốc gia thời trung đại qua những tuyến hàng hải trên biển Đông…

***

Bổ sung thông tin (03 tháng 07 – 2013):
Vậy là theo thông tin báo chí, việc trục vớt cổ vật trên con tàu đắm Bình Châu đã cơ bản hoàn tất. Vào chiều 30 tháng 06, Sở VH-TT-DL tỉnh Quảng Ngãi đã có buổi báo cáo sơ bộ kết quả khai quật khảo cổ và trưng bày hiện vật từ tàu đắm này. Trong khi chở có được những thông tin được ấn hành như nhận định chính thức từ những nhà chuyên môn, bạn Nguyên Hà ghi chú thêm vào đây vài lưu ý cho mình.

– Nhiều nhà báo viết rằng đơn vị trục vớt dùng cừ kiểu lá sen (?) để thi công tường vây. Nhiều trang tin khi mượn bài để dẫn lại cũng (tất nhiên) không thẩm định thông tin, chép y nguyên cái lá sen đó. Nhà báo nghe và viết nhầm, thật ra đó là kiểu thi công tường vây dùng cọc thép kiểu Larssen (Larssen sheet pilling). Đây là giải pháp khá phổ biến để làm tường vây khi thi công công trình ngầm và công trình dưới nước. Với độ sâu của tàu đắm chỉ dưới 4m, đây là phương án hay và tỏ ra tối ưu sau khi lặn khảo sát đươc phạm vi giới hạn khu vực khai quật và nó đã chứng minh được tính hiệu quả trong việc cô lập hiện trường. Ngoài ra, với nhà thầu trục vớt nó giúp tiết kiệm chi phí (con số 10,5 tỷ đồng do nhà báo đưa ra cho hạng mục này không biết đã thẩm định chưa, có nhầm dấu phầy nào không), và với các nhà khảo cổ, nó đem lại cơ hội lớn để sờ tận tay nhìn tận mắt những hiện vật gần như còn nguyên vị trong lòng biển. Rất nên cám ơn nỗ lực của chính quyền cũng như nhà thầu trục vớt về giải pháp này.

– Chưa rõ niên đại thế kỷ 13 của con tàu và cổ vật đã được các nhà nghiên cứu kết luận chính thức hay vẫn còn trong vòng giả định. Các đồng tiền được nhận định là niên đại muộn nhất tk 13, nếu thực sự là chìm cùng con tàu này, chỉ chứng minh điều chính xác là con tàu không thể đắm trước tk 13. Trước khi các nhà khoa học tiếp cận con tàu, do vị trí ở rất gần bờ, sóng, thủy triều, hoạt động của ngư dân và nhiều yếu tố khác qua thời gian đều có thể gây xáo trộn hiện trạng khu vực. Những cổ vật dĩa men celadon, như so sánh ở phần trên, vẫn cho thấy sự tương đồng về hình thức với những hiện vật được Bảo tàng NPM xếp niên đại tk 15-16, hay sớm lắm là vào buổi giao thời Nguyên – Minh. Chưa có thống kê tỷ lệ số lượng các hiện vật này. Các cổ vật gốm men nâu, men vàng da lươn có phần mộc mạc hơn. Nhận định ”gốm dân gian thời Nguyên” có lẽ là dành cho nhóm hiện vật này. Không rõ giả thiết một phần trong đó là sản phẩm của các lò gốm cổ vùng duyên hải miền Trung VN có được đặt ra không, hay đã được loại bỏ?

– Về xác con tàu, ban đầu có ý kiến từ nhà thầu cho rằng nhiều phần tàu đã mục nát khó trục vớt và đề xuất việc bảo tồn tại chỗ (?). Sau các nhà khoa học có ý kiến ngược lại là tình trạng con tàu còn tốt hơn rất nhiều so với các tàu đắm đã khai quật khảo cổ ở VN, nên trục vớt để nghiên cứu. Về mặt tìm hiểu giá trị lịch sử và văn hóa, việc trục vớt tàu là nên làm. Nhưng xét đến yếu tố kinh tế của việc đầu tư trục vớt cổ vật, nhà thầu hẳn có lý do của mình.

Một tư liệu về tàu đắm để từ từ tham khảo:

Shipwreck ASIA:
Thematic Studies in East Asian Maritime Archaeology (nguồn: http://www.shipwreckasia.org/wp-content/uploads/FU-South-East-Asia-Archaeology-Brochure.pdf)