Đạp tuyết tầm mai

2.4.1. Mạnh Hạo Nhiên 孟浩然 và tích truyện Đạp tuyết tầm mai 踏雪尋梅: Mạnh Hạo Nhiên (689-740) biệt hiệu Mạnh sơn nhân 孟山人, người vùng Tương Dương 襄陽 nay thuộc Hồ Bắc 湖北 Trung Quốc. Ông từng làm quan, nhưng chán cảnh xô bồ quan trường nên lui về ở ẩn, mê ngoạn du sơn thủy và đặc biệt say mê hoa mai. Có câu Mạo vũ tiễn cửu Quách Lâm Tông khoản hữu tình ân – Đạp tuyết tầm mai Mạnh Hạo Nhiên tự ngu hứng nhã 冒雨剪韭 郭林宗款友情殷 踏雪尋梅 孟浩然自娛興雅 (Ấu học quỳnh lâm 幼學瓊林, quyển 4) [5]. Tạm dịch nghĩa:  Xông vào mưa cắt rau hẹ Quách Lâm Tông đãi bạn tình ân – Băng qua tuyết tìm mai Mạnh Hạo Nhiên một mình vui hứng nhã (7). Trương Đại 張岱 (1597-1679), tản văn gia thời Minh 明 mạt Thanh 清 sơ, trong Dạ hàng thuyền 夜航船 (Thuyền sóng đôi ban đêm) đã viết: Mạnh Hạo Nhiên vốn tâm tình khoáng đạt, thường cưỡi lừa xông qua tuyết tìm mai, từng nói Ngô thi tứ tại Bá kiều phong tuyết trung lư bối thượng 吾詩思在灞橋風雪中驢背上. Tạm dịch nghĩa: Ý thơ của ta có được lúc ngồi trên vai lừa trong gió tuyết ở cầu sông Bá [5] (8). Điển tích Bá kiều tầm (thám) mai  灞橋尋(探)梅 (Tìm mai bên cầu sông Bá) hay Đạp tuyết tầm mai 踏雪尋梅 liên hệ đến chuyện Mạnh Hạo Nhiên tìm mai khá phổ biến trong thi văn của Nho sĩ và là đề tài hội họa được nhiều họa gia thể hiện, không chỉ ở Trung Quốc.

Lưu ý, hoa mai Trung Quốc là cây mai mơ. Từ điển Hán Việt Thiều Chửu giải thích mai 梅 là “cây mơ, đầu xuân đã nở hoa, có hai thứ trắng và đỏ. Thứ trắng gọi là lục ngạc mai 綠萼梅, nở hết hoa rồi mới nẩy lá, quả chua, chín thì sắc vàng. Kinh Thư có câu nhược tác hòa canh, nhĩ duy diêm mai 若作和羹, 爾惟鹽梅  bằng nấu canh ăn, bui dùng muối mơ. Nay gọi quan Tể tướng là điều mai 調梅  hay hòa mai 和梅  là bởi ý đó”. Việc quân cơ bởi thế cũng gọi là điều canh sự 調羹事, và tầm mai theo nghĩa tìm người tài cán là một điển tích từ cổ xưa. Từ điển Thiều Chửu cũng viết là thời Ân 殷 khi vua Cao tông 高宗 cử Phó Duyệt 傅說 làm Tể tướng đã nói: ví như nêm canh, ta nhờ ngươi làm muối với mỡ.

Tầm mai còn có hàm ý là tìm an nhàn kiểu Lâm Bô 林逋 (967-1028), xử sĩ vô gia thê mai tử hạc. Đó là phong thái của người Nho sĩ tài tử nhưng chọn lối ẩn dật. Nguyễn Trãi (1380-1442) đã từng viết: Ngày nhàn mở quyển xem Chu Dịch – Ðêm vắng tìm mai bạn Lão Bô …, hẳn mang nghĩa ấy.

Cao Bá Quát (1809-1855), nhà Nho vốn không thích chịu ràng buộc của khuôn phép trường thi, được cho là có câu đối tỏ rõ hoài bão: Thập tải luân giao cầu cổ kiếm – Nhất sinh đê thủ bái mai hoa 十載輪交求古劍 一生低首拜梅花. Dịch nghĩa: Mười năm giao thiệp tìm gươm báu – Một đời chỉ cúi trước hoa mai (9). Đây có thể xem là sự vinh danh hoa mai, và diễn tả ý tầm mai ở góc độ như sự trân trọng người quân tử khí phách, tài hoa.

Trên món đĩa ĐSKK do Đặng Huy Trứ (1825-1874) đặt làm (năm 1868) (hình 7b) có ghi rõ tên tích truyện mai tuyết trong phần hiệu đề: Tự Đứ­c Mậu Thìn Trung thu Đặng quý từ đường tế khí mai tuyết 嗣德戊辰中秋 鄧季祠堂祭器梅雪. Thơ vịnh: Tuyết trung vị vấn điều canh sự – Tiên hướng bách hoa đầu thượng khai 雪中未问調羹事 先向百花頭上𫔭 [trên đĩa chữ khai viết bộ môn giản thể – NH]. Tạm dịch nghĩa: Còn trong tuyết nên chưa nói việc nêm canh – Nhưng sớm vươn trên trăm hoa mà nở. Ý thơ điều canh sự này vốn được cho là của Vương Tằng 王曾 (978-1038), biệt hiệu Vương Nghi công 王沂公, từng đỗ Trạng nguyên và là danh tướng thời Bắc Tống (chép trong Châu hoa di từ thoại 珠花簃詞話 [5]). Ngoài sự liên hệ đến tích truyện đạp tuyết tầm mai (nói về Mạnh Hạo Nhiên như  trong sách Ấu học quỳnh lâm), đồ án và lời thơ đề vịnh còn mang ý nghĩa tôn vinh người Nho sĩ có tài cán, nắm việc quân cơ, đồng thời luôn phong nhã tài tử.

Đề tài mai tuyết còn thấy vẽ trên tô hiệu đề Uẩn Tàng Mỹ Kí 蘊藏美記 (hình 7c).

Hình họa vẽ tích này trên đồ sứ tương quan về kiểu thức với hình họa của rất nhiều đề tài sơn thủy nhân vật có vẽ một sĩ phu với tiểu đồng theo hầu, đang cưỡi lừa đi ven sông. Hoặc cưỡi lừa qua cầu, tích truyện mà giới cổ ngoạn gọi là kỵ lư quá tiểu kiều, đôi khi cũng gọi thành đạp tuyết tầm mai do có viết câu thơ tương truyền của Hoàng Thừa Ngạn ngâm: độc thán mai hoa sấu 獨嘆梅花瘦, trong Tam quốc diễn nghĩa (xem thêm mục 3.3.6 và các mục dưới đây).

curator_24_2

Hình 7a: Trích đoạn tranh Bá kiều tầm mai của Sim Sajeong 심사정 (1707-1769) – BT quốc gia Hàn Quốc [https://www.museum.go.kr]

dap tuyet tam mai (FILEminimizer)Uantangmyki

Hình 7b, 7c: Đĩa đề tài Mai tuyết do Đặng Huy Trứ ký kiểu [2]; Tô hiệu Uẩn Tàng Mỹ Kí 蘊藏美記, sưu tập tư nhân – Hà Nội

Trên đây là trích đoạn (có hiệu chỉnh tí xíu cho lời văn liền lạc) tư liệu soạn chung của mình với bạn mình, dưới sự giúp đỡ của thầy mình. Bài đã đăng trong Thông tin Mỹ thuật, số 11, tháng 01-2018.

IMG_E6022[1]

Chép thêm ngoài phần trích: Như mình từng viết, nhóm mình đã định danh một dạng hình hoạ vẽ cùng hình ảnh sĩ phu cưỡi lừa nhưng mang rất nhiều nghĩa biểu tượng khác nhau. Một ví dụ với thơ đề vịnh là bài Nam trung cảm hoài 南中感懷 của Phàn Hoảng 樊晃 (700-773) thi sĩ thời thịnh Đường. Có câu Thập nguyệt tiên khai Lĩnh thượng mai 十月先開嶺上梅 – Tháng mười mai ở núi Ngũ Lĩnh nở trước tiên. Nguồn: Thất ngôn Đường thi hoạ phổ 七言唐詩畫譜 bản online.

paint_image_00444 MainKey=425

 

Advertisements

Rồng Việt

Nguồn: Hình ảnh tư liệu của Viện khảo cổ học VN.
(Archaeological Discovery: Thang Long Royal Citadel. Institute of Archaeology of Vietnam)


^ Nắp hộp gốm men xanh lục, thời Lý


^ Mảnh tháp sứ trắng thời Lý trang trí hình rồng


^ Nắp liễn gốm thời Lê sơ, khắc chìm hình rồng


^ Đồ gốm sứ ngự dụng, thời Lê sơ


^ Bát lớn vẽ rồng thời Lê Sơ


^ Lá đề trang trí rồng gắn trên ngói úp nóc thời Trần


^ Rồng, phượng trang trí trên ngói úp nóc (ngói bò) thời Lý-Trần


^ Trang trí đầu ngói ống thời Lý


^ Đầu rồng lớn trang trí trên bờ nóc mái (tìm thấy ở hố khảo sát A15)


^ Giả định về cách trang trí trên mái cung điện thời Lý – Trần

Ký họa của họa sĩ Tạ Thúc Bình

Đây là các bức ký họa mà theo mình mang đậm hồn cốt của người Việt.
Từ rất lâu, mình đã thích thú với những ký họa này, và mình nghĩ sẽ đến lúc những ký họa này vượt ra khỏi phạm vi lưu trữ của gia đình ông, để trở thành một di sản mỹ thuật chung quí giá.
Với mình, những ký họa này luôn cho mình thấy lại bóng dáng của làng quê Việt Nam, của người nông dân, những nét thân thuộc như chính là ông bà, cô bác, anh chị em mình…

ImageImageImageImageImageImageImageImageImageImageImageImageImageImageImageImageImageImageImageImageImageImageImageImageImageImage