Đề tài Mai hạc kèm thơ Nôm

Một trong những đề tài trên đồ sứ ký kiểu (ĐSKK) thời Nguyễn rất hay được nhắc đến là hình họa vẽ mai – hạc và có đề thơ chữ Nôm: Nghêu ngao vui thú yên hà – Mai là bạn cũ hạc là người quen 嘵嗷𠸟趣烟霞 梅罗伴旧隺罗𠊛㳙 (hình 1a, 1b) (4). Bản thân hình ảnh mai – hạc vốn có liên hệ với Lâm Bô 林逋. Lâm Bô (967-1028), tự Quân Phục 君復, thụy Hoà Tĩnh 和靖, người thời Bắc Tống 北宋 ở đất Tiền Ðường 錢塘 (nay thuộc Hàng Châu 杭州, Chiết Giang 浙江 Trung Quốc). Suốt đời ông không làm quan, không lấy vợ, ẩn cư tại núi Cô Sơn 孤山 vùng Tây Hồ 西湖, thích làm thơ, trồng mai, nuôi hạc. Người đời xưng Mai thê hạc tử 梅妻鶴子 (Mai làm vợ hạc làm con) là vậy. Đó là phong thái của người Nho sĩ chọn lối ẩn dật.

Theo một biên khảo của Nguyễn Văn Thoa, ĐSKK vẽ đề tài mai – hạc thường thấy dưới dạng bộ chung trà, ấm trà, tô, chén, bình thuốc lào mang các hiệu đề Ngọc 玉, Ngoạn Ngọc 玩玉, Nhã Ngọc 雅玉, Trân Ngoạn 珍玩, Kim Tiên Kỳ Ngoạn 金仙竒玩, chữ Phúc 福, chữ Thọ 壽. Hai hiệu đề chữ Phúc và Thọ được viết theo lối triện. Riêng hai câu thơ lục bát kiểu Việt Nam, thì được viết bằng chữ Nôm với nhiều lối sắp xếp bố cục chữ khác nhau, và đôi khi mặt chữ khác nhau. Điều này cho những ước định về các thời điểm ký kiểu khác nhau của đồ sứ mai – hạc đề thơ Nôm. Thầy Nguyễn Văn Thoa cũng thiên về giả thuyết chính Nguyễn Du là người sáng tác câu thơ lục bát đề trên dòng ĐSKK này, khi so sánh với cách Nguyễn Du chuyển những thành ngữ hay câu thơ có trong văn học Trung Hoa sang thơ Nôm trong Truyện Kiều. Ví dụ từ câu thơ của Lý Thương Ẩn 李商隱 (813-858): Cổ lai tài mệnh lưỡng tương phương 古來才命两相妨 (Xưa nay (hai yếu tố) tài hoa và định mệnh thường hại nhau), ông đã chuyển dịch tài tình thành cặp lục bát làm luận đề cho toàn Truyện Kiều: Trăm năm trong cõi người ta – Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau 𤾓𢆥𥪝𡎝𠊛些 𡨸才𡨸命窖罗恄僥 (5). Từ câu thơ chữ Hán: Phương thảo liên thiên bích – Lê chi sổ điểm hoa 芳草連天碧 梨枝數點花 (Cỏ thơm xanh biếc liền trời – Cành lê nở hoa vài nụ), ông đã viết thành thơ Nôm rất trong sáng: Cỏ non xanh tận chân trời – Cành lê trắng điểm một vài bông hoa 𦹵𧀒撐羨蹎𡗶 挭梨𤽸點沒𠄽芃花… Còn nếu xét Truyện Kiều cùng những lời thơ kiểu: Bề ngoài thơn thớt nói cười – Mà trong nham hiểm giết người không dao 皮外噠噠呐唭 麻冲岩險𣩂𠊛空刀, hay Tiếc thay chút nghĩa cũ càng – Dẫu lìa ngó ý còn vương tơ lòng 惜台𡮇義𡳵强 𠱋離𦬶意群𥿁絲𢚸… thì âm điệu và sức truyền cảm thực sự đặc sắc so với những thành ngữ Trung Hoa tương đồng: Tiếu lí tàng đao 笑裡藏刀 (Trong nụ cười có dấu dao), hay Ngẫu đoạn ti liên 藕斷絲連 ( Ngó sen gãy tơ còn liền)… Vì vậy việc điển tích Mai thê hạc tử, qua “ngòi bút” được tin là của Nguyễn Du, đã được biến hóa và gắn với phong thái thong dong của kẻ sĩ tài tử: Nghêu ngao vui thú yên hà – mai là bạn cũ hạc là người quen, là điều hoàn toàn có thể mường tượng được [3].

Lâu quá rồi quên hết hồi nhỏ môn Văn mình học những gì. Mang máng rằng khi học về Truyện Kiều, thì tinh thần chung là cảm thương cho thân phận gian truân của nàng Kiều, kiểu như cô nàng buông mái chèo trên dòng Hương Giang của Tố Hữu. Còn Từ Hải thì như một kiểu… người nông dân nổi dậy… Phần nhiều là học dựa trên nội dung, qua những đoạn được cho là có yếu tố “tích cực”. Nhưng ấn tượng nhất là có thầy mình khi bình giảng đặt câu hỏi: Thúy Kiều là ai?, và trong khi bọn học sinh (chuyên toán) đang ngớ ra thì thầy đưa ra một (trong những) cách nhận định: Thúy Kiều là một con đĩ…

Mãi sau này mình mới nghĩ được là phải cảm nhận âm hưởng, nhạc điệu của TIẾNG VIỆT qua tác phẩm Truyện Kiều. Sao phải băn khoăn về một cốt truyện với bối cảnh không gian và thời gian xa xôi, rồi diễn giải theo lối thời cuộc… Hiện thực của thời ấy là như vậy, cụ Nguyễn Du đã kể lại câu chuyện đó bằng thơ, mà mỗi nhân vật được khắc họa rõ nét thêm đến mức thành hình tượng. Cứ nói thẳng như thầy mình hồi xưa là hay, đâu vì nàng Kiều như thế mà kém đi sự kính trọng cụ Nguyễn Du.

Và cũng nhờ thầy dạy Hán Nôm về sau đã hướng dẫn thêm nhiều. Phần phía trên là trích đoạn một tư liệu soạn chung của mình với bạn mình, dưới sự giúp đỡ của thầy.

 

 

Advertisements